Thời kỳ

Tạo mới

Kháng Chiến Chống Mỹ (1945 - 1975)
Trong hơn năm đầu của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, cách mạng đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, có giải quyết đuôc thì thành quả Cách Mạng Tháng Tám mới được giữ vững và phát huy. Xây dựng chính quyền cách mạng, diệt giặc đói, giặc dốt, khắc phục khó khăn về tài chính, đấu tranh chống ngoại xâm, nội phản, bảo vệ chính quyền là những nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta.
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
Trong nửa thế khỉ thống trị, trên một đất nước xảy ra nhiều biến động lớn, nhà Nguyễn ra sức củng cố quyền thống trị, phục hồi kinh tế, chấn chỉnh văn hoá. Tuy nhiên, trong điều kiện của giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam, với tư tưởng bảo thủ, nhà Nguyễn không tạo ra được cơ sở cho một bước phát triển mới.
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lê vùng Tây Sơn thượng đạo nay thuộc An Kê, Gia Lai lập căn cứ, dựng cờ khởi nghĩa chống chính quyền họ Nguyễn.
Nhà Hậu Lê (1428 - 1527)
Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế khôi phục lại quốc hiệu Đại Việt, tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước mới. Chính quyền phong kiến được hoàn thiện dần và đến đời vua Lê Thánh Tông thì hoàn chỉnh nhất. Đứng đầu triều là vua. Vua trực tiếp nắm mọi quyền hành, kể cả chức tổng chỉ huy quân đội.
Bắc Thuộc Lần 4 (1407 - 1427)
Sau thất bại của nhà Hồ, nhà Minh thiết lập chính quyền thống trị trên khắp nước ta. Chúng xoá bỏ quốc hiệu của ta, đổi thành quận Giao Chỉ; sáp nhập nước ta vào Trung Quốc; thi hành chính sách đồng hoá và bóc lột nhân dân ta tàn bạo. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế nặng nề, bắt phụ nữ, trẻ em đưa về Trung Quốc bán làm nô tìm cưỡng bức dân ta phải bỏ phong tục tập quán của mình, thiêu huỷ phần lớn sách quý của nước ta và mang về Trung Quốc nhiều sách có giá trị.
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Trước tình trạng suy sụp của nhà Trần và cuộc khủng hoảng xã hội cuối thể kỉ 14, Hồ Quý Ly đã thực hiện cuộc cải cách khá toàn diện để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Những cải cách của Hồ Quý Ly ít nhiều góp phần hạn chế tập trung ruộng đất của giai cấp quý tộc, địa chủ, làm suy yếu thế lực của quý tộc tôn thất nhà Trần, tăng nguồn thu nhập của nhà nước và tăng cường quyền lực của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Lý ngày càng suy yếu. Chính quyền không còn chăm lo đến đời sống nhân dân như trước, hầu hết quan lại lao vào ăn chơi sa đoạ. Dân chúng vô cùng khổ cực. Ở nhiều nơi dân nghèo nổi dậy đấu tranh. Nhà Lý phải dựa vào thế lực họ Trần để chống lại các lực lượng nổi loạn nên tạo điều kiện và thời cơ cho Trần Thủ Độ buộc Lý Chiêu Hoàng phải kết hôn và nhường ngôi cho Trần Cảnh.
Nhà Lý (1009 - 1225)
Năm 1005, Lê Hoàn mất, Lê Long Đĩnh lên ngôi vua. Cuối năm 1009 Lê Long Đĩnh qua đời. Tiều thần chán ghét nhà Tiền Lê, vì vậy các tăng sư và đại thần, đứng đầu là sư Vạn Hạnh, Đạo Cam Mộc, tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô về Đại La, đổi tên thành Thăng Long.
Nhà Đinh (968 - 980)
Năm 944, Ngô Quyền mất. Hai con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn không đủ uy tín và sức mạnh để giữ vững chính quyền trung ương. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn mà sử sách gọi là "Loạn 12 sứ quân". Nhờ sự ủng hộ của nhân dân, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh bại các sứ quân. Thống nhất đất nước.
Nhà Ngô (938 - 967)
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, mưu đồ xâm lược của quân Nam Hán bị đè bẹp, năm 939 Ngô Quyền lên ngôi vua, chọn Cổ Loa làm kinh đô. Hơn 10 thế kỉ thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc đã chấm dứt. Nền độc lập và chủ quyền được giữ vững.
Tự chủ (905 - 938)
Bắc Thuộc Lần 3 (602 - 905)
Nhà Tiền Lý - Lý Nam Đế (541 - 602)
Bắc Thuộc Lần 2 và Khởi Nghĩa Bà Triệu (43 - 541)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Sau khi đánh đuổi được quân đô hộ, Trưng Trắc (Trưng Vương) được suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh và phong chức tước cho những người có công, thành lập chính quyền tự chủ. Trưng Vương xá thuế hai năm liền cho dân. Luật pháp hà khắc cùng các thứ lao dịch nặng nề của chính quyền đô hộ bị bãi bỏ.

Đang cập nhật...